(Tóm tắt)
Năm 2007, vợ chồng bà N và công ty C ký kết hợp đồng mua bán một căn nhà tại một khu dân cư với giá 150 triệu.
Ông bà đã thanh toán đủ tiền, công ty C cũng đã bàn giao nhà, đất cho ông bà. Theo thỏa thuận, trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày ký hợp đồng, công ty C phải giao sổ đỏ cho ông bà nhưng đến nay vẫn không thực hiện.
Theo đại diện công ty C, nhà và đất của bà N đã được Sở TN&MT TP Cần Thơ cấp sổ đỏ cho công ty C vào năm 2012 nhưng công ty đã thế chấp tại một ngân hàng để đảm bảo khoản vay của công ty khác…
Sau đó, bà N có đơn khởi kiện bổ sung yêu cầu hủy một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất nêu trên giữa công ty C với ngân hàng để công ty C hoàn thiện thủ tục, bàn giao giấy chứng nhận cho bà.
Xử sơ thẩm, TAND quận Cái Răng đã chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N, công nhận hợp đồng mua bán nhà có hiệu lực pháp luật; Hủy một phần hợp đồng thế chấp bất động sản giữa ngân hàng với công ty C đối với nhà và đất của bà N; Buộc ngân hàng bàn giao sổ đỏ cho công ty C.
Sau đó, ngân hàng kháng cáo đề nghị tòa phúc thẩm không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với ngân hàng.
Xử phúc thẩm, TAND TP Cần Thơ nhận định, hợp đồng thế chấp bất động sản giữa ngân hàng và công ty C phải được đăng ký tại cơ quan quản lý đất đai để đảm bảo hiệu lực theo quy định tại khoản 3, Điều 188, Luật đất đai năm 2013.
Bên cạnh đó, hợp đồng thế chấp không đăng ký giao dịch bảo đảm là không thỏa mãn điều kiện có hiệu lực theo quy định tại khoản 2, Điều 323 BLDS năm 2005.
Ngoài ra, theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 của Nghị định 83/2010 (về đăng ký giao dịch bảo đảm) thì hợp đồng thế chấp trong trường hợp trên không có hiệu lực pháp luật. Do vậy, tòa sơ thẩm tuyên hợp đồng thế chấp vô hiệu là có căn cứ pháp luật.
Từ đó, tòa phúc thẩm bác kháng cáo của ngân hàng, tuyên giữ y bản án sơ thẩm.
Theo báo Pháp Luật – Truy cập ngày 05/8/2024 – https://plo.vn/ngan-hang-phai-tra-giay-chung-nhan-quyen-su-dung-dat-vi-nhan-the-chap-sai-post803592.html

