Tình huống về tài sản chung vợ chồng

Tình huống: Lan và Điệp là vợ chồng nhưng đã ly hôn năm 2019, nay Lan mang sổ đỏ đứng tên Lan năm 2021 và giấy xác nhận hôn nhân để yêu cầu công chứng bán tài sản này, có hai định hướng:
(i) không buộc phải có sự thoả thuận của Điệp.
(ii) vẫn cần thoả thuận của Điệp vì Lan ký HĐMB căn hộ với chủ đầu tư năm 2016.
Bình luận:
Theo ý kiến thứ nhất, CCV có thể áp dụng hiệu lực công tín để thực hiện bởi về nguyên lý, khi cấp giấy chứng nhận thì cơ quan đăng ký căn cứ vào nguyên tắc ở Điều 97, Điều 98 Luật Đất đai năm 2013 để cấp cho chủ sở hữu[1].
Mặt khác, sau khi ly hôn thì việc đại diện đứng tên trên giấy chứng nhận của vợ chồng không còn(xem thêm Điều 34 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014), lúc này, nếu là tài sản chung thì giấy chứng nhận cấp cho đồng sở hữu và được hiểu là sở hữu chung theo phần, không phải sở hữu chung hợp nhất[2].
Trong khi đó, quan điểm thứ hai căn cứ theo khoản 1 Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để nhận định rằng có phần tài sản chung vợ chồng được hình thành trong thời kỳ hôn nhân giữa Lan và Điệp.
Một số lưu ý:
Nhìn chung, trước năm 2015 thì việc nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận dường như chưa được cơ quan đăng ký thực hiện một cách chặt chẽ, cụ thể là thông tin của vợ chồng.
Tình trạng nêu trên cơ bản chấm dứt từ ngày 01/8/2024.
Tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà xác lập giao dịch thì người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ đồng nghĩa với việc CCV chứng nhận giao dịch cũng phải được bảo vệ.
[1] Theo Bộ Tư pháp thì luật dân sự của nhiều nước (trong đó có Việt Nam) áp dụng nguyên lý “hiệu lực công tín”, nghĩa là, nếu người thứ ba ngay tình căn cứ vào việc tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà xác lập giao dịch thì người thứ ba ngay tình sẽ được bảo vệ- xem Bản thuyết minh Dự thảo BLDS năm 2015 (sửa đổi), tr. 29.
[2] Khoản 2 Điều 98 Luật đất đai năm 2013 cơ bản qui định rằng khi có nhiều người sử dụng chung thì phải ghi đầy đủ tên của những người sử dụng… trường hợp cấp chung một Giấy chứng nhận và trao cho người đại diện thì cần hiểu rằng tại trang 1 phải thể hiện “đầy đủ tên của những người sử dụng chung”.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *