Từ “chính sách” đến “chiến lược” phát triển nghề công chứng
Ngày 19/11/2020, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 172/NQ-CP về chính sách phát triển nghề công chứng nhằm phát triển nghề công chứng ổn định, bền vững,…
Về chiến lược (được nâng tầm từ chính sách) thì tại khoản 2 Điều 19 Luật Công chứng năm 2024 qui định Btp có trách nhiệm xây dựng, trình Chính phủ ban hành chiến lược phát triển nghề công chứng.
Thực hiện chủ trương trên, tháng 6/2025 Btp đã có dự thảo về Chiến lược phát triển về lĩnh vực công chứng được thực hiện từ năm 2025 đến năm 2045, theo đó, đến năm 2045 cơ bản hoạt động công chứng của chúng ta sẽ:
+ Phát triển đủ số lượng, bảo đảm chất lượng CCV…
+ Thực hiện tốt việc công chứng điện tử…
+ Hội nhập quốc tế…
Như vậy, từ chính sách đến chiến lược phát triển nghề công chứng có thể khẳng định rằng: nghề công chứng sẽ phát triển trong nhiều năm nữa mà không bị loại bỏ, ít nhất là đến năm 2045.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, ở tầm nhìn chiến lược khi “tác chiến” trên thực tế trong thời đại số hóa thì “vũ khí điện tử” là điều không thể thiếu.
Về lí thuyết, “Văn bản công chứng điện tử được tạo lập trực tiếp trên môi trường điện tử theo quy trình công chứng điện tử trực tiếp hoặc trực tuyến được quy định tại Luật Công chứng, Nghị định này và quy định pháp luật về giao dịch điện tử” (khoản 1 Điều 47 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP); lưu ý, theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023, ở phần giải thích thuật ngữ tại Điều 3 thì:
Giao dịch điện tử là giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử.
Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự.
Ngày 03/07/2025, Chính phủ ban hành Nghị định số 194/2025/NĐ-CP hướng dẫn Luật Giao dịch điện tử về cơ sở dữ liệu quốc gia, kết nối và chia sẻ dữ liệu, dữ liệu mở phục vụ giao dịch điện tử của cơ quan nhà nước.
Để thực hiện CCĐT thì cần một số điều kiện (được qui định tại Điều 49 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP) theo đó, bên cạnh điều kiện như:
(i) có Tài khoản để thực hiện việc công chứng điện tử
(ii) có Chữ ký số có sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian
(iii) Tổ chức hành nghề công chứng cung cấp dịch vụ công chứng điện tử phải bảo đảm điều kiện về máy tính, đường truyền mạng, thiết bị điện tử và các điều kiện cần thiết khác.
thì dịch vụ CCĐT “phải được tạo lập trên nền tảng công chứng điện tử đáp ứng các quy định tại Điều 51 của Nghị định này và quy định pháp luật có liên quan”.
Về nền tảng CCĐT khi công chứng viên cung cấp dịch vụ cần “sử dụng tài khoản định danh điện tử… và xác thực tài khoản định danh điện tử” hay nói theo cách khác là “định danh” được chủ thể tham gia xác lập giao dịch (xem Điều 51 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP).
Lưu ý, về nền tảng CCĐT thì yêu cầu “Phải kết nối với cơ sở dữ liệu công chứng của địa phương nơi tổ chức hành nghề công chứng hoạt động để cung cấp thông tin cập nhật vào cơ sở dữ liệu công chứng theo thời gian thực”; phần này tương tự như hệ thống CSDL “giấy” là UCHI hay CeNM, nói cách khác, sau khi CCV chứng nhận VBCC “điện tử” thì TCHNCC cần đưa thông tin đã chứng nhận lên hệ thống nhằm công khai, bảo đảm tính xác thực, tính hợp pháp để cơ quan, tổ chức liên quan rà soát qua đó thực hiện thủ tục kế tiếp cho NYCCC (Nghị định 104/2025/NĐ-CP gọi là “Cổng tham chiếu dữ liệu công chứng”).
Lưu ý nữa mà người thực hiện cần phân biệt là sự khác nhau giữa “Cơ sở dữ liệu công chứng, nền tảng công chứng điện tử và cổng tham chiếu dữ liệu công chứng”; theo đó:
Cơ sở dữ liệu công chứng bao gồm CSDL của Bộ Tư pháp (ccv, tchncc…) và của địa phương (thông tin về nguồn gốc tài sản, tình trạng giao dịch của tài sản, biện pháp ngăn chặn…) qui định tại Điều 66 Luật Công chứng năm 2024.
Nền tảng công chứng điện tử là “hệ thống thông tin được tạo lập trên môi trường điện tử cho phép các bên cung cấp, sử dụng và thực hiện dịch vụ công chứng điện tử” được qui định tại khoản 1 Điều 51 Nghị định 104/2025/NĐ-CP.
Cổng tham chiếu dữ liệu công chứng là “điểm truy cập chính thức để tham chiếu thông tin văn bản công chứng và các dữ liệu công chứng khác…” được qui định tại khoản 2 Điều 51 Nghị định 104/2025/NĐ-CP.
Trước hàng loạt những điều kiện như trên thì một trong các điều kiện “nền tảng” mà cá nhân người viết quan tâm là sự kết nối, chia sẻ về CSDL của Bộ, ngành, địa phương và các CSDL khác mà cơ bản là dữ liệu về dân cư, đất đai, hộ tịch nhằm thực hiện tốt dịch vụ công chứng điện tử.

