Trường hợp A nhận đặt cọc của B, hợp đồng được TCHNCC X chứng nhận nhưng sau đó A bán cho C và đề nghị chứng nhận tại TCNHCC Y.
Về nguyên tắc, bên nhận đặt cọc có quyền trả lại tiền cọc và chịu phạt cọc theo Khoản 2 Điều 328 BLDS năm 2015 mà không bắt buộc phải tiếp tục thực hiện hợp đồng (vì trái với ý chí tự nguyện). Tuy nhiên, trên thực tế khi hệ thống cơ sở dữ liệu công chứng có thông tin về đặt cọc thì CCV thường e ngại nếu bên nhận đặt cọc bán tài sản cho chủ thể khác không phải là bên đặt cọc.
Cơ sở pháp lý cho việc từ chối yêu cầu công chứng có lẽ bắt nguồn do lo ngại phát sinh tranh chấp nên CCV thường căn cứ vào chức năng xã hội của CCV (Điều 3) để từ chối tiếp nhận, thụ lý.
Liên quan đến nội dung nêu trên hiện đang có đề xuất bổ sung quy định tại Điều 3 dự thảo Nghị quyết Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp hợp đồng đặt cọc trong đó có việc chấm dứt hợp đồng đã được công chứng, cụ thể: “Đối với hợp đồng công chứng công chứng thì các bên trong hợp đồng có thể tự thỏa thuận về thời gian ký kết hợp đồng chính, hết thời hạn trên mà một trong các bên không thực hiện hợp đồng chính thì bên còn lại sẽ được quyền liên hệ với cơ quan công chứng để hủy bỏ hợp đồng công chứng. Các tranh chấp sau khi hủy bỏ hợp đồng sẽ được giải quyết tại Tòa án có thẩm quyền”.
