Huỷ bỏ hợp đồng và điều kiện huỷ bỏ hợp đồng

Về khái niệm, huỷ bỏ hợp đồng được qui định từ Điều 423 đến Điều 427 BLDS năm 2015 là một biện pháp chế tài hay biện pháp trách nhiệm dân sự. Theo đó, chế tài hủy bỏ hợp đồng bao gồm hủy bỏ toàn bộ hợp đồng hoặc hủy bỏ một phần hợp đồng.
Hủy bỏ toàn bộ hợp đồng là việc bãi bỏ hoàn toàn việc thực hiện tất cả các nghĩa vụ hợp đồng đối với toàn bộ hợp đồng.
Hủy bỏ một phần hợp đồng là việc bãi bỏ thực hiện một phần nghĩa vụ hợp đồng, các phần còn lại trong hợp đồng vẫn có hiệu lực.
Trong khi đó, hợp đồng có điều kiện huỷ bỏ là một loại hợp đồng mà các bên có thoả thuận trước về điều kiện huỷ bỏ (Điều 120 BLDS năm 2015) và khi điều kiện đó xảy ra thì hợp đồng sẽ không thực hiện hoặc không tiếp tục được thực hiện nữa, chẳng hạn như A mua tài sản của B nhưng bên mua mới trả một nửa tiền, hai bên thoả thuận rằng sau 1 tháng kể từ ngày hai bên ký hợp đồng mua bán mà bên mua không trả đủ tiền thì hợp đồng sẽ bị huỷ (sau 1 tháng, bên bán yêu cầu công chứng viên huỷ hợp đồng vì bên mua không trả đủ tiền?).
Như vậy, phân tích câu chữ thì hợp đồng có điều kiện huỷ bỏ là một loại hợp đồng mà các bên có thoả thuận “trước” về điều kiện huỷ bỏ hay nói cách khác là không phải là một thoả thuận “sau” bởi khái niệm huỷ được hiểu là một biện pháp chế tài hay biện pháp trách nhiệm dân sự.
p/s khoản 1 Điều 51 Luật Công chứng năm 2014 qui định “Việc công chứng sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ hợp đồng, giao dịch đã được công chứng chỉ được thực hiện khi có sự thỏa thuận, cam kết bằng văn bản của tất cả những người đã tham gia hợp đồng, giao dịch đó” nội dung này đã được sửa đổi tại khoản 1 Điều 53 Luật Công chứng năm 2024.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *