Chẳng hạn A và B đang tranh chấp nhà đất do A đang chiếm hữu (B kiện đòi)[1]; theo đó, B có yêu cầu công chứng hợp đồng uỷ quyền cho C với nội dung:
B uỷ quyền cho C đại diện kiện đòi nhà đất do A đang chiếm hữu;
Trường hợp B thắng kiện thì C được quyền thi hành án, kê khai, ký nộp hồ sơ cấp giấy chứng nhận… sau đó C được quyền bán tài sản của B phát sinh từ bản án.
Bình luận:
Trên thực tế, có hai quan điểm là đồng ý chứng nhận và không đồng ý chứng nhận yêu cầu công chứng nêu trên.
Người có quan điểm đồng ý chứng nhận vì khi toà án đã thụ lý vụ án và hai bên tự nguyện thoả thuận thì ccv hoàn toàn có cơ sở thực hiện.
Ý kiến khác lại cho rằng, khi văn bản công chứng có hiệu lực sẽ ràng buộc hai bên phải thực hiện theo thoả thuận, nếu không, một trong hai bên có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền lợi của mình[2].
Giả định, bản án có hiệu lực của toà án xử B thua thì C không thể định đoạt được “tài sản của B”, vì vậy, việc uỷ quyền là chưa bảo đảm được tính xác thực (có thật) hay nói theo cách khác, B chưa có “quyền” về tài sản để có thể “uỷ” cho C định đoạt mà chỉ có quyền, nghĩa vụ của bên khởi kiện tại toà mà thôi.
…
[1] nhà đất chưa có giấy chứng nhận;
[2] khoản 2 Điều 5 (vbcc có hiệu lực thi hành đối với các bên có liên quan, ví dụ như cơ quan đăng ký, cơ quan thuế).
* Tính hợp pháp: Điều kiện để giao dịch có hiệu lực.
