Ủy quyền… không được ủy quyền

Uỷ quyền là chế định đại diện tồn tại lâu đời trong lịch sử tiến hoá của nhân loại, tại Việt Nam, uỷ quyền hiểu đơn giản là công việc được làm thay, làm hộ, làm giúp nhau mà thôi;
Trong thực tiễn hành nghề công chứng, khi tiếp nhận yêu cầu chứng nhận giao dịch uỷ quyền thì về cơ bản, CCV cần xác định chủ thể có quyền hoặc/và nghĩa vụ mới có thể thực hiện hoặc ủy quyền cho chủ thể khác thực hiện (công việc có thể thực hiện được và phù hợp với pháp luật).
Lưu ý, xét “thuộc tính tự nhiên” thì một số công việc ủy quyền sẽ bị hạn chế không thể thực hiện được như không ủy quyền ăn, uống, ngủ hoặc ốm thay hay trong mối tương quan với trách nhiệm gắn liền với cá nhân thì pháp luật cũng không thừa nhận ủy quyền đi tù thay hoặc mang thai hộ (ủy quyền) với mục đích thương mại…
Cụ thể hơn, chúng ta có thể thấy một số trường hợp không được ủy quyền theo quy định pháp luật có liên quan đến hoạt động công chứng như sau:
1./ Trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình
Thứ nhất, đăng ký kết hôn thì hai bên nam và nữ bắt buộc phải có mặt (khoản 1 Điều 18, khoản 2 Điều 38 Luật Hộ tịch năm 2014).
Thứ hai, đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền (khoản 4 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).
Thứ ba, khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt (khoản 1 điều 25 Luật Hộ tịch năm 2014).
Thứ tư, không uỷ quyền khi lập di chúc (Điều 56 Luật công chứng năm 2014).
Thứ năm, không được ủy quyền cho người có quyền, lợi ích đối lập theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015.
Thứ sáu, không được ủy quyền cho người đang được ủy quyền bởi một đương sự khác trong cùng vụ việc có quyền, lợi ích đối lập quy định tại điểm b khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015.
2./ Trong quan hệ pháp luật hình sự
Thứ nhất, nhận tội thay, đi tù thay do mục đích của luật hình sự là giáo dục, răn đe, thuyết phục người phạm tội (xử lý đúng người, đúng tội).
Thứ hai, Thủ trưởng Cơ quan điều tra không được ủy quyền (khoản 4 Điều 36 BLTTHS năm 2015).
Thứ ba, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát không được ủy quyền (khoản 4 Điều 41 BLTTHS năm 2015).
Thứ tư, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án không được ủy quyền (khoản 4 Điều 44 BLTTHS năm 2015).
3./ Trong quan hệ pháp luật hành chính
Thứ nhất, UBND cấp tỉnh, cấp huyện có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không được ủy quyền.
Thứ hai, trong tố tụng hành chính, người được ủy quyền không được ủy quyền lại cho người thứ ba.
Thứ ba, Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp.
Thứ tư, Cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước ở địa phương nhận ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho cơ quan, tổ chức khác…
Thứ năm, không uỷ quyền cấp phiếu lý lịch tư pháp số 2.
4/. Trong quan hệ pháp luật kinh tế
Thứ nhất, Chủ tịch và thành viên Hội đồng quản trị tổ chức tín dụng là hợp tác xã không được ủy quyền…
Thứ hai, Chủ đầu tư dự án kd bđs không được ủy quyền cho bên tham gia hợp tác đầu tư, liên doanh, liên kết, hợp tác kinh doanh hoặc góp vốn…
Thứ ba, Người gửi tiền phải trực tiếp thực hiện giao dịch gửi tiền tại tổ chức nhận tiền gửi…
Thứ tư, cá nhân không được ủy quyền quyết toán thuế cho tổ chức trả thu nhập…

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *