Tình huống: Người Việt Nam định cư ở nước ngoài

Câu hỏi: Căn cứ  điểm đ khoản 1 Điều 169 Lđđ 2013 quy định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc diện được sở hữu nhà ở tại Việt Nam theo quy định của pháp luật về nhà ở được nhận chuyển quyền sử dụng đất ở thông qua hình thức mua, thuê mua, nhận thừa kế, nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở hoặc được nhận quyền sử dụng đất ở trong các dự án phát triển nhà ở;”

Như vậy, có thể hiểu là Người VN định cư ở nước ngoài được phép nhập cảnh được nhận tặng cho nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại bất cứ đâu hay là chỉ được nhận tặng cho trong các dự án phát triển nhà ở?

Chúng tôi xin trao đổi (bình luận) tình huống nêu trên dưới góc nhìn của hai quan điểm, cụ thể:

Một là, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không được nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở ngoài khu công nghiệp, dự án,… căn cứ theo điểm b, điểm đ Khoản 1 Điều 169 Luật Đất đai năm 2013 như đã nêu ở trên và căn cứ theo điểm b Khoản 2 Điều 8 Luật Nhà ở năm 2014 (theo Luật Nhà ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quyền “nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở trong dự án đầu tư xây dựng nhà ở thương mại được phép bán nền để tự tổ chức xây dựng nhà ở theo quy định của pháp luật”).

Hai là, người Việt Nam định cư ở nước ngoài có thể nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở có điều kiện được thể hiện tại Khoản 1 Điều 186 Luật Đất đai năm 2013 như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài thuộc các đối tượng có quyền sở hữu nhà ở theo quy định của pháp luật về nhà ở thì có quyền sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam”; theo quy định này, người Việt Nam định cư ở nước ngoài nếu có quyền sở hữu nhà ở “gắn liền với quyền sử dụng đất ở” thì có thể nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà tại Việt Nam, nói cách khác, quy định này không hạn chế người Việt Nam định cư ở nước ngoài sử dụng nhà, đất ngoài khu công nghiệp, dự án.

Như vậy, trường hợp người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng nhà, đất (ngoài khu công nghiệp, dự án…) hay không hiện nay còn nhiều quan điểm và theo ý kiến của chúng tôi thì dường như trường hợp này vẫn còn bất ổn về mặt lý thuyết, vì thế, khi tiếp nhận yêu cầu công chứng bạn nên thận trọng rà soát văn bản cũng như tình hình thực tế tại địa phương nơi có bất động sản.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, theo Luật Đất đai năm 2024 có hiệu lực kể từ ngày 01/8 qui định “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam có quyền, nghĩa vụ như cá nhân trong nước” (Khoản 3 Điều 4) thì đối với tình huống nêu trên, Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam hoàn toàn có thể nhận chuyển quyền sd đất ở tương tự như đối với cá nhân trong nước.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *