Tình huống về tài sản chung vợ chồng

Tình huống thực tế:
A và B là vợ chồng có đăng ký kết hôn năm 2010.
Năm 2015, A và B mua xe ô tô và đăng ký tên của A.
Năm 2020, A bán xe ô tô cho C (biết rằng C có vợ là D).
Tại TCHNCC X, người soạn dự thảo hợp đồng mua bán tài sản với chủ thể bên bán là A, bên mua là C.
Những người ủng hộ quan điểm chứng nhận hợp đồng mua bán nêu trên theo hướng áp dụng Khoản 1, Điều 24 và Điều 26, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 để chứng nhận.
Trao đổi (bình luận)
Nội dung đại diện giữa vợ và chồng đối với trường hợp bán tài sản chung chỉ ghi tên một người được Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 ghi nhận cụ thể tại Điều 24 như việc vợ, chồng (i) ủy quyền cho nhau… (ii) khi một bên mất năng lực hành vi… hoặc (iii) đại diện trong quan hệ kinh doanh.
Theo Điều 34, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về Đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng đối với tài sản chung thì:
1. Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng thì giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng phải ghi tên cả hai vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.
2. Trong trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26 của Luật này; nếu có tranh chấp về tài sản đó thì được giải quyết theo quy định tại khoản 3 Điều 33 của Luật này.
Tại Khoản 2, Điều 34, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 khi nói về trường hợp giấy chứng nhận quyền sở hữu, giấy chứng nhận quyền sử dụng tài sản chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng thì giao dịch liên quan đến tài sản này được thực hiện theo quy định tại Điều 26; theo Điều 26 thì hướng dẫn ngược lại theo Điều 24 và Điều 25 (ủy quyền) như đã nêu ở trên.
Trong khi đó, nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng theo Khoản 1, Điều 29 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì “vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền… định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia định và lao động có thu nhập”; tiếp đến, tại Điều 35, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 cũng quy định:
“1. Việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận.
2. Việc định đoạt tài sản chung phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng trong những trường hợp sau đây:
a) Bất động sản;
b) Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
c) Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình”.
Liên quan đến tài sản chung tại Khoản 2, Điều 213, BLDS năm 2015 quy định: “Vợ chồng cùng nhau tạo lập, phát triển khối tài sản chung; có quyền ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung”; cũng theo BLDS năm 2015, tại Khoản 2, Điều 218 quy định: “Việc định đoạt tài sản chung hợp nhất được thực hiện theo thoả thuận của các chủ sở hữu chung hoặc theo quy định của pháp luật”[1];
Đối với tài sản là ô tô (động sản phải đăng ký) qua rà soát các quy định liên quan như Thông tư số 58/2020/TT-BCA do Bộ Công an ban hành ngày 16/6/2020 về Quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ… chúng tôi không thấy quy định về nội dung đại diện giữa vợ và chồng trong trường hợp tài sản chung chỉ ghi tên một người.
Nhận định về nội dung liên quan đến chế độ tài sản chung vợ chồng nêu trên, ngày 06/4/2021, Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hà Nội có Thông báo số 13/TB-VC1-KDTM về rút kinh nghiệm xử lý tài sản thế chấp là tài sản chung vợ chồng có đoạn “Bản án sơ thẩm và phúc thẩm đều nhận định: Giấy đăng ký xe đúng tên bà L nên bà L được toàn quyền thế chấp tài sản. Từ đó xác định các Hợp đồng thế chấp đối với 02 chiếc xe ô tô có hiệu lực và xử lý tài sản thế chấp này là không đúng với quy định của pháp luật về chế định tài sản sản chung vợ chồng, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông T”.
Như vậy, căn cứ những quy định của luật hôn nhân và gia đình cũng như Bộ luật dân sự thì nếu tài sản chung chỉ ghi tên một người mà vợ, chồng không có thỏa thuận khác thì nên hiểu là chuyển giao quyền sở hữu tài sản phải được sự đồng thuận của cả hai vợ chồng.
Thực tiễn nêu trên dường như diễn ra nhiều năm và thành thói quen ở một số TCHNCC, theo đó, tại một số buổi tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hoặc thanh tra chuyên ngành đều đề cập nội dung bên bán cần phải bảo đảm quyền của đồng sở hữu trong trường hợp tài sản chung vợ chồng[2].
Sau một thời gian, về cơ bản các TCHNCC thực hiện theo đúng hướng dẫn, bảo đảm bên bán phải có sự thỏa thuận của vợ (chồng) nếu tài sản hình thành trong thời kỳ hôn nhân.
Vậy còn bên mua?
Suy luận logic cho thấy: Khi A bán xe phải có sự thỏa thuận của B, nghĩa là tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân thì vợ chồng phải cùng nhau định đoạt; tương tự, C mua xe thì đương nhiên cũng phải nhận được sự đồng ý từ D vì xe và tiền đều là tài sản.
Liên quan đến nội dung nêu trên, ngày 12/8/2021 Bộ Tư pháp có Công văn số 2727/BTP-BTTP về việc công chứng hợp đồng mua bán moto, xe máy đã qua sử dụng có đoạn: Lãnh đạo Chính phủ cũng đã yêu cầu Bộ Công an nghiên cứu, đề xuất giải pháp thực hiện cấp giấy chứng nhận đối với xe là tài sản chung của vợ, chồng để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, đáp ứng yêu cầu thực tiễn và phù hợp với các quy định của pháp luật.
[1] Liên quan đến tài sản là quyền sử dụng đất, theo quy định về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại Khoản 4, Điều 98, Luật Đất đai năm 2013 thì “Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người”.
[2] Liên quan đến ví dụ này, nếu CCV chứng nhận nội dung mua bán xe trong trường hợp người mua chưa đăng ký sang tên (ký nối) thì hành vi này đã vi phạm quy định của pháp luật (xem khoản 4, Điều 6, Thông tư số 58/2020/TT-BCA do Bộ Công an ban hành ngày 16/6/2020 về Quy định quy trình cấp, thu hồi đăng ký, biển số phương tiện giao thông cơ giới đường bộ thì “Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày làm giấy tờ chuyển quyền sở hữu xe thì tổ chức, cá nhân mua, được điều chuyển, cho, tặng, được phân bổ, thừa kế xe phải đến cơ quan đăng ký xe làm thủ tục cấp đăng ký, biển số”).
Xem thông tin chi tiết
Quảng cáo bài viết
Thích

 

Bình luận
Chia sẻ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *